| Đái tháo đường (ĐTĐ) là yếu tố nguy cơ quan trọng gây ra bệnh động mạch vành (đmv) và đột qụy. Có tới 80% các bệnh nhân ĐTĐ bị tử vong do nguyên nhân vữa xơ động mạch, so với khoảng 30% ở những người không bị ĐTĐ. Nguyên nhân chủ yếu là ĐTĐ đă làm thúc đẩy nhanh tiến tŕnh tự nhiên của vữa xơ động mạch ở tất cả các nhóm bệnh nhân. Chụp đmv cho thấy các bệnh nhân ĐTĐ có tổn thương nhiều nhánh đmv hơn, tổn thương lan tỏa, phức tạp hơn.
Các biến chứng thường gặp của ĐTĐ
Khoảng 90% bệnh nhân ĐTĐ thuộc tưp 2, thường sau tuổi 40. Cơ chế chuyển hóa của ĐTĐ tưp 2 là sự kết hợp đề kháng insulin và giảm dần chức năng tiết insulin của các tề bào bêta tuyến tụy. Đề kháng insulin xuất hiện trước ĐTĐ tưp 2 khoảng 8 -10 năm và thường kèm theo các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, t́nh trạng tăng đông máu. Sự kết hợp của các yếu tố nguy cơ này được gọi là Hội chứng chuyển hóa (HCCH) hay Hội chứng tim mạch rối loạn chuyển hóa. Rất nhiều bệnh nhân bị HCCH có biểu hiện suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói hay rối loạn dung nạp glucose nhiều năm trước khi xuất hiện ĐTĐ.
Ngược lại với ĐTĐ tưp 2, ĐTĐ tưp 1 chỉ chiếm khoảng 10% các bệnh nhân ĐTĐ. Nguyên nhân thường do hiện tượng miễn dịch làm phá hủy các tế bào bêta của tuyến tụy. ĐTĐ tưp 1 hay xuất hiện ở hai thời điểm là 4 tuổi và 13 tuổi, nhưng cũng có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào. Bệnh đặc trưng là gây ra các biến chứng bệnh lư vi mạch (bệnh thận, bệnh vơng mạc mắt) nhưng cũng có thể gây ra bệnh đmv.
Bên cạnh đó, tỷ lệ tử vong do đột qụy ở các bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 3 lần so với những người không bị ĐTĐ. Thêm vào đó, ĐTĐ làm tăng khả năng bị vữa xơ nặng hệ động mạch cảnh. Các bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ bị tổn thương năo trầm trọng hơn khi bị thuyên tắc mạch do vữa xơ động mạch cảnh, trong khi các bệnh nhân không bị ĐTĐ có thể chỉ bị thiếu máu năo thoáng qua.
 |
|
Vữa xơ động mạch ở bệnh nhân ĐTĐ. |
ĐTĐ tưp 2 và bệnh ĐMV
Bệnh ĐMV rất hay gặp ở bệnh nhân ĐTĐ tưp 2 và là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong không liên quan đến thời gian bệnh nhân mắc bệnh. ĐTĐ tưp 2 làm tăng nguy cơ bị các bệnh lư tim mạch lên từ 2-4 lần khi so với những người không bị ĐTĐ. Tỷ lệ này đặc biệt tăng cao ở các bệnh nhân nữ so với bệnh nhân nam. Mức độ và thời gian bị tăng đường máu là các yếu tố nguy cơ quan trọng làm xuất hiện các biến chứng vi mạch ở các bệnh nhân ĐTĐ tưp 1, nhưng trong ĐTĐ tưp 2 th́ không thấy có sự liên quan giữa thời gian và mức độ trầm trọng của bệnh với biến chứng vi mạch. Thậm chí với rối loạn dung nạp đường máu đă làm tăng nguy cơ tim mạch mặc dù chỉ tăng đường máu một cách tối thiểu.
Về mặt di truyền, những người có đề kháng insulin th́ có thể xuất hiện ĐTĐ tưp 2. Một số yếu tố gây vữa xơ động mạch hay gặp cùng với đề kháng insulin làm khởi phát quá tŕnh vữa xơ động mạch nhiều năm trước khi tăng đường máu biểu hiện trên lâm sàng. Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa tăng insulin khi đói hay sau ăn với sự xuất hiện bệnh ĐMV trong tương lai. Tuy nhiên sự liên quan này chỉ thấy ở những nam giới tuổi trung niên mà không thấy ở nữ giới.
Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh ĐMV, nhưng các nghiên cứu cho thấy nồng độ đường máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐMV và các biến chứng tim mạch khác.
ĐTĐ tưp 1 và bệnh ĐMV
Các yếu tố nguy cơ tim mạch có sự liên quan với mức độ tăng đường máu ở bệnh nhân ĐTĐ tưp 1, làm tỷ lệ tử vong do bệnh tăng lên sau tuổi 30. Tỷ lệ tử vong do bệnh ĐMV ở bệnh nhân ĐTĐ tưp 1 tăng lên một cách đáng kể, và 1/3 số bệnh nhân này sẽ bị tử vong do bệnh ĐMV ở độ tuổi 55. Tác dụng bảo vệ của các hormon sinh dục nữ ở độ tuổi chưa măn kinh cũng không thấy ở những phụ nữ bị ĐTĐ tưp 1.
Bệnh thận do ĐTĐ làm tăng rơ rệt tỷ lệ bị bệnh ĐMV. Bệnh thận do ĐTĐ được xác định là tiểu đạm, giảm mức lọc cầu thận và tăng huyết áp. Các bệnh nhân tiểu đạm được chia làm 2 nhóm: những người có đạm niệu (tiểu ra 300mg/ngày) và những người vi đạm niệu (tiểu ra 30-300 mg/ngày). Sự xuất hiện đạm niệu làm tăng nguy cơ tử vong do tim mạch lên gần 10 lần so với các bệnh nhân không có tiểu đạm. Nguy cơ xuất hiện bệnh ĐMV tăng gấp 15 lần ở các bệnh nhân có tiểu đạm so với các bệnh nhân không có bệnh thận do ĐTĐ. V́ nguy cơ mắc bệnh và nguy cơ tử vong do bệnh ĐMV đă được chứng minh ở cả 2 nhóm bệnh nhân tiểu đạm và vi đạm niệu, do vậy cần kiểm tra đạm niệu định kỳ cho các bệnh nhân ĐTĐ.
Biến chứng tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ là cực kỳ nguy hiểm và rất thường gặp, do vậy muốn kiểm soát tốt ĐTĐ không chỉ kiểm tra đường huyết thường xuyên mà c̣n kiểm tra định kỳ huyết áp, lipid máu, xét nghiệm nước tiểu... Việc điều trị những biến chứng này phải kết hợp tốt với điều trị bệnh ĐTĐ |